Chương 6

Đất Lành Chim Đậu

– Làng Kế Môn Làng Nghề Vàng

Từ trước, cũng như các làng khác, hầu hết dân làng sống về nghề nông, một nắng hai sương, lao động vất vả, cực nhọc, một số nhỏ sống nghề chài lưới hoặc buôn bán nhỏ.

Song về phong thổ làng Kế Môn, địa hình địa thế khá đặc biệt, nhân tình lại cần cù và hiền hòa nên duyên lành khéo đẩy đưa. Vào gần cuối đời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, gia đình ông Cao Đình Độ, gốc làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa xin nhập cư vào ở làng Kế Môn. Khi đến nhập cư vào làng Kế Môn, ông Độ đã là một người thợ kim hoàn giỏi, tinh xảo nổi tiếng.

Theo thông tục chung thời bấy giờ, người muốn nhập cư phải chịu một thời gian “tạm cư”, phải phục dịch trong các ngày làng hội họp cúng tế như gánh nước, mổ heo, nấu xôi, quét dọn… Sau kỳ hạn 3 năm, Hội đồng làng mới xét cho “chính cư”. Nhưng đất lành chim đậu, ông Cao Đình Độ là người có tay nghề cao, lại có tâm chất tốt muốn truyền dạy nghề cho con dân làng, nên Hội đồng làng “đặc cách phá lệ” miễn cho gia đình ông Độ cái thông tục cố hữu ấy. Có tài liệu nói cụ thể rằng ông Cao Đình Độ trên đường di cư vào thành Huế bằng ghe thuyền, dọc theo sông Ô Lâu, đến khúc sông ở Khút Bàu Ngược thì gặp sóng to gió lớn bị chìm đò, gia đình ông Độ được nhân dân Kế Môn tận tình cứu vớt giúp đỡ. Sau đó ông Độ xin tạm trú trên một gò đất ven sông Ô Lâu thuộc địa phận làng Kế Môn. Ông dựng trại, đắp lò bệ làm nghề kim hoàn.

Ông được nhân dân làng Kế Môn thương yêu giúp đỡ. Do vậy về sau ông đã tận tâm dạy và truyền nghề kim hoàn cho con dân làng Kế Môn.

Nghề kim hoàn bắt đầu phát triển, có vị thế dưới bàn tay người Việt ở Đàng trong. Trước đó đồ ngự dụng bằng vàng bạc đá quý trong phủ Chúa hoặc của quan lại, nhà giàu…đều do thợ giởi người nước ngoài chủ yếu là Tàu, làm ra. Từ đó cùng trên một dải đất sự trù phú của dân làng Kế Môn cũng dần dần khá hơn các làng lân cận.

Theo tộc phổ Tổ kim hoàn ghi lại khá đầy đủ về ông Cao Đình Độ. Ông Độ sinh năm 1735, lúc trẻ ông Độ vốn rất thạo về nghề đồng, chuyên làm thợ hàn thiếc, bịt khay, chén, vá nồi, mâm đồng cũ. Ông mơ ước được học nghề vàng, hy vọng có cơ hội được tuyển vào làm việc ở cung đình, có tương lai hơn. Để học được nghề kim hoàn ông phài tìm đường ra Thăng Long (Hà Nội bây giờ) giả làm dân Hoa kiều vào xin phụ việc, học nghề với một chủ tiệm kim hoàn người Trung Hoa đang nổi tiếng tại Kinh đô.

Mặc dầu chủ tiệm kim hoàn người Trung Hoa cố ý dấu nghề, chỉ dạy những việc làm đơn giản cho học trò, nhưng ông Độ là người thông minh, yêu nghề, chăm chỉ học, cầu tiến lại có khiếu thẩm mỹ nên sau 7 năm học và luyện tay nghề, ông Cao Đình Độ đã trở thành người thợ vàng xuất sắc và khéo tay hơn cả thầy của mình.

Đưa cả gia đình vào Đàng trong lập nghiệp và dạy nghề tại làng Kế Môn. Ngoài ông Độ còn có thêm người trợ giáo đắc lực là ông Cao Đình , con trai trưởng của ông Độ, cũng là một tay thợ vàng giỏi. Hai cha con ông đã dốc lòng tận lực truyền dạy nghề kim hoàn. Dân làng Kế Môn theo học khá đông.

Là một người thợ vàng xuất sắc, là một vị thầy dạy nghề tài giỏi, danh tiếng của ông Độ đồn đến Hoàng Cung. Vì thế, năm 1790, dưới triều Tây Sơn Nguyễn Huệ, cha con ông Độ cùng một số học trò của ông, được Vua Quang Trung cho vời vào kinh đô Phú Xuân, sắp xếp vào cung đình chuyên lo trang trí vàng bạc trong cung điện đồng thời mở lớp dạy nghề thợ vàng, đào tạo nhiều thợ giỏi. Triều đình còn lập nên cơ vệ “ngành Ngân Tượng”. Ông Độ được Vua phong chức Lãnh binh, ông Hương chức Phó Lãnh binh.

Sau ngày triều Tây Sơn mất, đất Phú Xuân thuộc về Vua Gia Long thì những gì được gọi là thành tựu văn hóa xây dựng dưới thời Quang Trung – Cảnh Thịnh đều bị trù dập và xóa mất. Duy chỉ có ngành Ngân Tượng vẫn được Vua Gia Long chú ý lưu giữ lại. Hai cha con ông Độ và nhóm thợ giỏi làng Kế Môn vẫn được triều Nguyễn trọng dụng, giữ nguyên chức tước cũ, cấp thêm lương bổng, tiếp tục hành nghề dạy kim hoàn.

Đến năm 1810, ông Độ mất. Năm 1821, ông Hương cũng qua đời. Triều dình cho cử tang lễ chu tất. Hằng năm lấy ngày 7 tháng Hai âm lịch giỗ vị Đệ Nhất, ngày 27 cùng tháng Hai theo âm lịch giỗ vị Đệ Nhị Tổ Sư Kim hoàn.

Nghề kim hoàn của làng Kế Môn đã liên tục phát triển trên 200 năm qua, nơi đã từng đào tạo không biết bao nhiêu người có tay nghề cao, nào chạm trổ, móc khoét khuôn, thiết kế mẫu mã hàng…, chẳng những cung cấp cho dất kinh thành, mà lại còn cho khắp đất nước, và nay còn lan rộng ở nhiều nước trên thế giới. Trong suốt thời kỳ vua quan nhà Nguyễn, nghề kim hoàn ở Huế được trưng tập theo lệnh của triều đình phong kiến, từ đó các đồ dùng bịt chạm hoặc làm bằng vàng trong cung cấm của tầng lớp quý tộc, thượng lưu…chủ yếu đều từ bàn tay người thợ vàng Kế Môn, chúng trở thành những tác phẩm trang trí và trang sức giá trị về nguyên liệu và mỹ thuật công phu.

Làng Kế Môn trên danh nghĩa là làng nghề kim hoàn, nhưng do đặc điểm nghề nghiệp, thợ xuất thân từ đây phân tán rộng khắp trên nhiều tỉnh, nhiều quốc gia. theo số liệu sơ bộ thống kê về mặt doanh nghiệp vàng bạc đá quý thành danh có cơ sở lớn vốn gốc làng Kế Môn ở một số nơi như: ở Huế 9/34 tiệm; ở Đà Nẵng 10/43 tiệm; ở Tp Sài Gòn 14/43 tiệm; ở tiểu bang California 14/56 tiệm; ở tiểu bang Texas 26/56 tiệm. 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: